TAP CHI KHOA HOC VA CONG NGHE LAM NGHIEP - VNUF
ISSN 1859 - 3828

SINH TRƯỞNG VÀ TĂNG TRƯỞNG MỘT SỐ LOÀI CÂY TRỒNG RỪNG CHÍNH VÙNG CÁT VEN BIỂN TẠI 3 TỈNH BẮC TRUNG BỘ

5 1 0
Lê Đức Thắng
Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng - Bộ Khoa học và Công nghệ
Số 5 - 2021 Trang: 39 - 49. Ngày nhận bài: 15/07/2021, Ngày quyết định đăng bài: 30/08/2021
Tóm tắt

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính, chiều cao, và đường kính các lâm phần rừng trồng Phi lao, Keo lá tràm, và Keo lá liềm có xu hướng tăng theo tuổi lâm phần; ngược lại, mật độ lâm phần, lượng tăng trưởng bình quân chung tương ứng các chỉ tiêu sinh trưởng có xu hướng giảm nhẹ theo tuổi lâm phần, và có sự khác nhau rõ giữa các vùng phòng hộ. Tăng trưởng bình quân chung lâm phần Phi lao đạt cao nhất ở vùng II, đạt 1,11 cm/năm về đường kính gốc, 0,62 m/năm về chiều cao. Tăng trưởng bình quân chung lâm phần Keo lá tràm giảm dần theo mức độ xung yếu từ vùng IV (0,83 cm/năm về đường kính, 0,61 m/năm về chiều cao), đến vùng III (0,79 cm/năm về đường kính, 0,57 m/năm về chiều cao), và thấp nhất, vùng V (0,74  m/năm về đường kính, 0,53 m/năm về chiều cao). Tăng trưởng bình quân chung về đường kính lâm phần Keo lá liềm, đạt cao nhất ở vùng II (2,55 cm/năm), tiếp đến vùng III (2,10 cm/năm), vùng IV (1,63 cm/năm), và thấp nhất, vùng V (1,06 cm/năm); ∆HVN đạt cao nhất ở vùng V (1,04 m/năm) và vùng II (1,00 m/năm), tiếp đến, vùng III (0,81 m/năm), và thấp nhất vùng IV (0,69 m/năm); ∆DT đạt cao nhất ở vùng V (1,08 m/năm), vùng II (1,07 m/năm), vùng III (1,02 m/năm), và thấp nhất ở vùng IV (0,83 m/năm).Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính, chiều cao, và đường kính các lâm phần rừng trồng Phi lao, Keo lá tràm, và Keo lá liềm có xu hướng tăng theo tuổi lâm phần; ngược lại, mật độ lâm phần, lượng tăng trưởng bình quân chung tương ứng các chỉ tiêu sinh trưởng có xu hướng giảm nhẹ theo tuổi lâm phần, và có sự khác nhau rõ giữa các vùng phòng hộ. Tăng trưởng bình quân chung lâm phần Phi lao đạt cao nhất ở vùng II, đạt 1,11 cm/năm về đường kính gốc, 0,62 m/năm về chiều cao. Tăng trưởng bình quân chung lâm phần Keo lá tràm giảm dần theo mức độ xung yếu từ vùng IV (0,83 cm/năm về đường kính, 0,61 m/năm về chiều cao), đến vùng III (0,79 cm/năm về đường kính, 0,57 m/năm về chiều cao), và thấp nhất, vùng V (0,74  m/năm về đường kính, 0,53 m/năm về chiều cao). Tăng trưởng bình quân chung về đường kính lâm phần Keo lá liềm, đạt cao nhất ở vùng II (2,55 cm/năm), tiếp đến vùng III (2,10 cm/năm), vùng IV (1,63 cm/năm), và thấp nhất, vùng V (1,06 cm/năm); ∆HVN đạt cao nhất ở vùng V (1,04 m/năm) và vùng II (1,00 m/năm), tiếp đến, vùng III (0,81 m/năm), và thấp nhất vùng IV (0,69 m/năm); ∆DT đạt cao nhất ở vùng V (1,08 m/năm), vùng II (1,07 m/năm), vùng III (1,02 m/năm), và thấp nhất ở vùng IV (0,83 m/năm).

Từ khóa: cây trồng rừng chính, Bắc Trung Bộ, Keo lá liềm, Keo lá tràm, Phi lao, vùng cát ven biển.

Trích dẫn: Lê Đức Thắng, 2021. SINH TRƯỞNG VÀ TĂNG TRƯỞNG MỘT SỐ LOÀI CÂY TRỒNG RỪNG CHÍNH VÙNG CÁT VEN BIỂN TẠI 3 TỈNH BẮC TRUNG BỘ. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp. Số 5: 39-49.

Bình luận (0)

Tạp chí xuất bản mới nhất

Các bài báo được xem nhiều nhất

Bài báo được trích dẫn nhiều nhất